nhím

Phân loại khoa học nhím

Vương quốc
Animalia
Phylum
Chordata
Lớp học
Mammalia
Đặt hàng
Erinaceomorpha
gia đình
Họ Erinaceidae
Chi
Atelerix
Tên khoa học
Atelerix Albiventris

Tình trạng Bảo tồn Nhím:

Ít quan tâm nhất

Vị trí Nhím:

Châu phi
Châu Á
Âu-Á
Châu Âu

Sự kiện về con nhím

Con mồi chính
Côn trùng, Giun, Hạt giống
Môi trường sống
Cây cối rậm rạp và rừng
Động vật ăn thịt
Cú, Chó, Cáo
Chế độ ăn
Động vật ăn tạp
Quy mô lứa đẻ trung bình
5
Cách sống
  • Đơn độc
Đồ ăn yêu thích
Côn trùng
Kiểu
Động vật có vú
phương châm
Được cho là một trong những loài động vật có vú lâu đời nhất trên Trái đất!

Đặc điểm vật lý của Nhím

Màu sắc
  • nâu
  • Màu xám
  • Vì thế
Loại da
Gai
Tốc độ tối đa
12 dặm / giờ
Tuổi thọ
3-6 năm
Cân nặng
1-2kg (2,2-4,4lbs)

Nhím được cho là một trong những động vật có vú lâu đời nhất trên trái đất, với ước tính niên đại của loài nhím khoảng 15 triệu năm trước. Người ta tin rằng con nhím đã thay đổi rất ít trong khoảng thời gian đó.



Nhím là một loài động vật có vú nhỏ chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, châu Á và châu Phi và loài nhím này cũng đã được đưa nhân tạo vào New Zealand.



Nhím thường dài khoảng 25 cm, với phần lưng của nhím được bao phủ bởi gai. Nhím cũng có thể tự bảo vệ mình bằng cách cuộn tròn cơ thể thành quả bóng để chỉ có gai nhím lộ ra. Phương pháp này chỉ để lộ các gai của nhím, giúp nhím an toàn trước những kẻ săn mồi.

Nhím là một loài động vật có vú sống về đêm, tự nhiên ăn sâu bọ và côn trùng. Người ta đã biết đến việc con người thuần hóa nhím trong vườn của họ, bằng cách cho nhím ăn quanh năm cho đến khi nhím ngủ đông vào mùa đông.



Người ta cho rằng có 16 loài nhím khác nhau được tìm thấy trên khắp thế giới mặc dù, kỳ lạ thay, không có loài nhím nào có nguồn gốc từ Úc và không có loài nhím sống nào có nguồn gốc từ Bắc Mỹ.

Gai của nhím là những sợi lông rỗng được tạo ra từ protein keratin (cùng một thứ mà tóc và móng tay của con người được tạo ra), và không giống như gai của nhím, gai của nhím không thể dễ dàng loại bỏ. Gai của nhím cũng khác với gai của nhím là gai của nhím không có độc hoặc không có gai.

Khi nhím con đến một độ tuổi nhất định, nhím non sẽ rụng đi những chiếc gai con mềm hơn, sau đó được thay thế bằng những chiếc gai cứng và sẫm màu hơn của nhím trưởng thành. Nhím cũng được biết là sẽ rụng nhiều gai khi nhím bị căng thẳng tột độ hoặc nếu nhím kém.



Tất cả các loài nhím đã tiến hóa để phản ứng với môi trường tự nhiên hơi khác. Mặc dù thực tế là tất cả các loài nhím thường cuộn mình vào một quả bóng chặt để chỉ lộ ra những chiếc gai nhọn hướng ra ngoài của chúng, một số loài nhím, chẳng hạn như những loài nhím sống ở vùng sa mạc, thường sẽ cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ săn mồi trước tiên để bảo vệ quả bóng gai của chúng như một tùy chọn sau. Điều này đã dẫn đến việc những con nhím ở những môi trường khác nhau sẽ có những kẻ săn mồi khác nhau. Ví dụ, những con nhím rừng lớn hơn thường bị săn mồi bởi cú, chim và chồn, nơi những con nhím nhỏ hơn tồn tại ở những khu vực thoáng đãng bị cáo, sói và chồn săn lùng.

Nhím được biết đến với nhu cầu ngủ đông trong những tháng mùa đông lạnh hơn mặc dù điều này không đúng với mọi loài nhím trên khắp thế giới. Nhím có ngủ đông hay không phụ thuộc vào loài nhím, khí hậu nơi chúng sinh sống và lượng thức ăn có sẵn.

Hầu hết các loài nhím đều là những động vật có giọng nói lớn và sử dụng tiếng càu nhàu và hít thở để giao tiếp với nhau. Một số loài nhím cũng sẽ giao tiếp với nhau bằng những tiếng kêu to hơn.

Các loài nhím lớn hơn sinh khoảng 3 hoặc 4 nhím con, nhưng các loài nhím nhỏ hơn có xu hướng đẻ nhiều lứa hơn một chút và do đó chúng sinh từ 5 đến 7 con. Khi nhím con đầu tiên được sinh ra, chúng bị mù bẩm sinh và không có gai. Mặc dù có thể thấy rõ gai của nhím con dưới da, nhưng gai của nhím con sẽ mọc xuyên qua da trong vài ngày sau khi nhím con được mẹ nhím mẹ vệ sinh kỹ lưỡng.

Các loài nhím lớn hơn có xu hướng sống lâu hơn trong tự nhiên hơn các loài nhím nhỏ hơn vì các loài nhím lớn hơn có ít kẻ săn mồi hơn. Tuổi trung bình của nhím lớn là khoảng 8 năm nhưng tuổi trung bình của nhím nhỏ là khoảng 5 năm. Cả hai loài đều được biết là sống lâu hơn trong điều kiện nuôi nhốt vì nguy cơ bị động vật ăn thịt đã được loại bỏ.

Xem tất cả 28 động vật bắt đầu bằng H

Nguồn
  1. David Burnie, Động vật Dorling Kindersley (2011), Hướng dẫn trực quan rõ ràng về động vật hoang dã trên thế giới
  2. Tom Jackson, Lorenz Books (2007) Bách khoa toàn thư thế giới về động vật
  3. David Burnie, Kingfisher (2011) The Kingfisher Animal Encyclopedia
  4. Richard Mackay, Nhà xuất bản Đại học California (2009) Tập bản đồ các loài nguy cấp
  5. David Burnie, Dorling Kindersley (2008) Từ điển bách khoa toàn thư có minh họa về động vật
  6. Dorling Kindersley (2006) Bách khoa toàn thư về động vật của Dorling Kindersley
  7. David W. Macdonald, Nhà xuất bản Đại học Oxford (2010) The Encyclopedia Of Mammals

Bài ViếT Thú Vị